Thứ tư ngày 21/11/2018
   
DANH MỤC
VIDEO CLIP

NSND Quang Thọ với "Sông Lô" trong "Hồn thiêng sông núi"

Đang online: 298
Tổng số: 21,398,600
  Những kỷ niệm chiến tranh
Gian nan đường trở lại quê hương
Trần Tiến - Hoàng Sáu (biên soạn)

QĐND - “Nếu ba vì Tổ quốc mà không có ngày trở về thì hãy cố gắng nén thương đau, vượt lên để làm việc, học tập, xứng đáng với truyền thống gia đình và quê hương”. Đó là một đoạn trong những trang viết mà Lê Trung Ngôn để lại cho vợ con trước ngày lên đường vào chiến trường miền Nam năm 1969 với chức vụ ban đầu là Cục phó công binh Bộ tư lệnh Trường Sơn. Đại tá Lê Trung Dũng, con trai cả của Thiếu tướng Lê Trung Ngôn hồi tưởng về cha mình: "Ba tôi là người trầm tính nhưng đa cảm và lãng mạn. Cuốn nhật ký của ông tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần, rất khâm phục, trân trọng lý tưởng sống của một người chiến sĩ cách mạng, trân trọng những tình cảm thiêng liêng của ông với đồng đội. Có những trang nhật ký ông dành cho mẹ tôi, viết về nỗi nhớ thương...".

Chúng tôi trích đăng nhật ký của Thiếu tướng Lê Trung Ngôn, nguyên Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Binh chủng Công binh, Tư lệnh Binh đoàn 11, giai đoạn ông từ Bộ tư lệnh Trường Sơn về nhận công tác ở chiến trường Khu 5 trong năm 1972.

Kỳ 1:

Gian nan đường trở lại quê hương

So với các lần vào chiến trường trước, vào Khu 5 lần này, Lê Trung Ngôn mang vào tâm trạng đặc biệt. Ông viết trong nhật ký: “Sau 24 năm xa quê hương, đi chiến đấu ở khắp các chiến trường miền Bắc, Lào, nay được trở lại tham gia giải phóng quê hương. Lòng bồi hồi không sao cho xiết (quê ông ở xã Phú Nhơn (nay là Tịnh Ấn), huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi)…

Nhiệm vụ mới

Thiếu tướng Lê Trung Ngôn. Ảnh chụp lại

Ngày 15-4-1972: Tôi đang công tác ở Binh trạm 42, khu vực La Hạp, là Cục phó Công binh của Bộ tư lệnh 559 (lúc này gọi là Bộ tư lệnh Trường Sơn - PV) đến chỉ đạo Trung đoàn công binh 217, Trung đoàn công binh 98 và Binh trạm 42 từ A Sầu vào Trao và Bến Hiên… thì được lệnh về Đoàn 559 nhận nhiệm vụ mới.

Ngày 20-4: Về tới Đoàn bộ. Thủ trưởng Đoàn cho biết nhiệm vụ mới và tổ chức liên hoan 2 lần. Một lần có anh Nguyên (tức đồng chí Đồng Sĩ Nguyên - Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn - PV), anh Tính (tức đồng chí Đặng Tính - Chính ủy Bộ đội Trường Sơn - PV) và anh Đinh Đức Thiện cùng dự. Một lần ăn cơm riêng với anh Tính. Anh Nguyên bảo: Trong mấy năm về công tác ở Đoàn 559, anh tỏ ra là cán bộ công binh có trình độ, hăng hái dũng cảm, lăn lộn nhiều với cán bộ cơ sở, góp phần rất quan trọng trong việc xây dựng tuyến đường và xây dựng lực lượng công binh của Đoàn 559. Nay vào Khu 5 cũng là tiếp tục công việc đang làm ở đây để chuẩn bị đánh to, thắng lớn.

Anh Đinh Đức Thiện nói: Anh vào trước, tôi sẽ vào sau…

Lúc này đang có chiến dịch lớn bắt đầu từ ngày 30-3. Ta đã giải phóng hầu hết tỉnh Quảng Trị, đánh mạnh ở Tây Nguyên và ở Nam Bộ. Địch cũng bắt đầu lại việc ném bom miền Bắc.

Ngày 25-4: Đi ô tô từ Đoàn 559 về Hà Nội, tối 27 đến nhà. Vợ con đều đã đi sơ tán. Tôi bẻ khóa vào nhà ngủ. Sáng 28 lên Tổng cục Chính trị báo cáo. Tối 28, đến thăm vợ con nơi sơ tán và chở tất cả về Hà Đông. Ở nhà, thấy vợ khỏe mạnh, công tác và gia đình rất tốt. Con đầu là Dũng học hết lớp 7, không phải thi tốt nghiệp và không phải thi vào lớp 8 vì nó học nhất lớp. Con thứ 2 là Tú Anh được lên lớp 6. Con thứ 3 là Tố Uyên mới hai tuổi rưỡi mà đã biết nhiều. Nó thuộc lòng 32 bài hát và tỏ ra rất thông minh. Mấy hôm ở với vợ con rất vui vẻ. Nhưng rồi cũng phải ra đi…

Ngày 16-5-1972: Lên đường đi Chi Nê, đến chỗ vợ công tác ở 3 hôm đợi anh em và sáng 20-5 cả đoàn xuất phát đi Khu 5.

Cùng đi có đồng chí Tuyên là công vụ (hiện còn sống ở Kinh Môn, Hải Dương - PV); Lập là trung úy, kỹ sư cầu đường (sau là Thượng tá, cán bộ Phòng Tác chiến, Binh chủng Công binh - PV); đồng chí Khoa, trung úy, kỹ sư hóa học, phụ trách nghiên cứu bom mìn của địch; đồng chí Hải, trung úy kỹ sư máy móc. Ba đồng chí này là do Bộ tư lệnh Công binh cho đi theo để giúp đỡ mình về kỹ thuật. Ngoài ra có đồng chí Thước là thiếu tá hậu cần của Quân khu 5 cũng đi vào.

Hôm mình từ Đoàn 559 đi ra, tuy địch đã đánh phá miền Bắc nhưng đường còn thông suốt và xe cứ đi theo đường 1 nên từ đó về Hà Nội không đầy 2 ngày. Nay đi vào, cầu đường đã hỏng nhiều, đường 1 chỉ đi được từng đoạn nên phải đi vòng, đi tránh nhiều.

Đường vào Khu 5

Tối 25-5: Xuất phát từ BTL 559. Vừa ra khỏi cổng thì máy bay đến đánh ở đường 20 và 18, thả pháo sáng, bom bi, bom cháy suốt từ 6 giờ tối đến 11 giờ. Mình phải nằm đợi mất mấy tiếng. Tới 1 giờ thì đi, qua khu vực km 32, đường 20, bom bi nổ chậm còn đang nổ và qua khu vực km 6, đường 18 còn đang có nhiều đám cháy. Đi suốt đêm, qua đèo 700, đường 18,... vào Binh trạm bộ 29. Làm việc với thủ trưởng binh trạm, lĩnh xăng rồi đi ngay. Tới tối thì đến km 57, đường 24K. Sở dĩ tranh thủ đi cả đêm và cả ngày vì sợ trời mưa, nhưng cả đêm và ngày cũng chỉ đi được 70km.

Một số trang viết trong nhật ký của Thiếu tướng Lê Trung Ngôn những năm 1971, 1972. Ảnh: Vĩnh Thăng

Tối 26 vào ngủ ở một đại đội dân công. Nói chuyện thời sự cho anh em cán bộ ở đó nghe.

Sáng 27 đi từ km 37 tới km 96, lội qua ngầm Nậm Cối ban ngày, sau đó dừng lại ăn cơm tối và tiếp tục đi qua đèo Phu Alom. Đèo này đường hẹp, dốc cao, nếu mưa là không đi được nên phải hết sức tranh thủ. Lê xuống đèo mất 17km, tới km 128 thì ngủ lại ở một trạm giao thông cũ mà anh em bỏ lại cạnh đường…

Ngày 28, đi tới km 140 thì gặp đường 128. Gọi điện thoại vào anh Tâm, Binh trạm trưởng 32. Anh Tâm cho biết là không đi được theo đường 36 mà phải vòng qua đường 23. Mà đi vòng thì xa lắm, rủi mà xe không đi được mà không bắt được vào đường giao liên nên mình quyết định vẫn đi theo dự án cũ. Cả buổi sáng chỉ đi được 10km, có 2 chỗ phải chống lầy cho xe nên lái xe cũng dao động. Mờ tối vượt qua đường 9, rồi đi tiếp theo đường 36 về sông Sê Băng Hiêng. Đến đây anh em bảo đường không có người bảo đảm, nước sông lớn, không lội sang được, nhất thiết phải quay trở lại. Nhưng mình cứ tiếp tục đi thử. Đến bờ sông Sê Băng Hiêng đã hơn 10 giờ tối. Chỗ này sông rộng độ 150m, mình cởi quần, lội thử qua thì thấy nước sâu có 60cm. Như vậy là xe con lội tốt. Tranh thủ tắm một tý, rất mát.

Nhưng lái xe dao động không đi, bảo là xe hỏng. Mình phải lội trở lại động viên anh em. May trong đoàn có đồng chí Hải là kỹ sư xe máy (sau này là Trung tá, Quản đốc Nhà máy Z756 công binh, nay nghỉ hưu tại Thành phố Hồ Chí Minh - PV), kiểm tra xe và bảo đảm là xe không hỏng. Thế là qua sông được thuận lợi…

Tối ngày 31 đến Binh trạm 44, cho xe con trở về, nghỉ một ngày và nhờ xe to của binh trạm đi tiếp vào km 110, cuối đường B46, đồng thời cũng là hết phạm vi của Đoàn 559 và bắt đầu vào đầu mối của Quân khu 5.

Ngày 2-6-1972: Đã nghỉ ở Binh trạm 44 hai ngày. Chiều, ra trạm giao liên cơ giới vì binh trạm bố trí cho một cái xe Zin để sáng mùng 3 vào. Từ binh trạm bộ ra trạm giao liên cơ giới đi bộ gần 2 giờ. Cả đêm mưa to. Lại có báo bão, gió mạnh cấp 9, có thể đổ bộ vào vùng từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi. Nên sáng 3-6, lái xe từ chối không đi, bảo là mưa to đường lầy. Nếu đợi xe thì không biết đến bao giờ mới hết mưa nên quyết định đi bộ.

Sáng 3-6: Dưới trời mưa to, cả đoàn đi bộ. Đường giao liên ở khu vực trong này nói chung không tốt bằng khu vực ngoài… Các trạm giao liên quân số cũng ít hơn (mỗi trạm độ 14-15 người), nhà cửa và ăn uống cũng kém hơn.

Suốt mấy ngày đi đều mưa. Đường lắm vắt. Trung bình mỗi chặng đường phải bắt độ hơn chục con vắt. Nó bò lên chân, lên tay và cả lên cổ và cắn 3-4 nốt. Tuy giữa mùa hè nhưng rất rét. Ban đêm nằm võng, đắp một cái chăn đơn, trong có lồng một cái võng bằng nilon, mặc quần dài, 2 áo mà ngủ cũng không được. Mùa rét chắc là rét hơn nhiều. Đó là mình đã ở vào ngang giới tuyến giữa tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi rồi đấy.

Từ hôm đi, đã gửi thư về nhà được 2 lần, một lần ở Bộ tư lệnh 559 và một lần khi đến Binh trạm 44. Nay viết một cái thư nữa, khi gặp ai thì gửi.

Ngày 8-6: Đi từ Trạm 257 qua Trạm 258. Đồng chí Nguyễn Quốc Lập, kỹ sư cầu đường bị sốt rét, phải ở lại Trạm 257 cùng đồng chí Tuyên. Đến 258 nghỉ lại một ngày đợi đồng chí Lập. Ở đây có đồng chí Ba, đại úy quân lực của Quân khu 5, nằm ở đây để tiếp nhận anh em ở Bắc vào. Có điện đài nên đã điện báo cáo về Quân khu 5 và về Cục Cán bộ, Tổng cục Chính trị.

Ngày 10-6: Từ 258 qua 259. Mấy hôm nay trời vẫn mưa. Đi vất vả. Vắt nhiều. Trên chân mình đã có mấy chục nốt vắt cắn…

Các trạm giao liên của đường Quân khu 5 khác các trạm của Đường 559: Ở đây phải tự túc lương thực 100% do đó anh em phải sản xuất nhiều. Ăn chủ yếu là ngô và sắn. Tiền sinh hoạt phí của anh em gửi về đồng bằng mua mỳ chính, muối. Đời sống vất vả. Do đó ở Đoàn 559 đi tới đâu có ăn ở đấy, đi khỏi phải mang gạo; còn ở đây thì khách cũng tự túc, có gì ăn nấy, không có thì thôi. Trạm chỉ nhận thổi cơm giúp. Vì vậy khách phải mang theo đủ gạo ăn suốt dọc đường. Mà các trạm lại đặt cách nhau rất xa. Có hôm phải 5 giờ chiều mới đến.

Từ Trạm 1 đến Trạm 3 trời nắng, đường đi hầu hết qua rừng già. Mấy hôm nay mang nặng, đi dài, trời nắng, ăn uống chẳng có gì nên anh em trong đoàn đều mệt. Mình sút ít nhất là 2-3 cân. Từ Hà Nội tới nay đã hành quân 23 ngày.

Ngày 14 đến 16-6: Đi từ Trạm 3 đến Trạm 6. Ngày 17 đi từ Trạm 6 qua Ac5 cũ ở tả ngạn sông Tranh. Nghỉ ở đây 1 ngày. Hôm sau đi từ Ac5 cũ sang Ac5 mới. Đây là trạm liên lạc của quân khu. Ngày 20, nằm ở trạm đợi ý kiến của quân khu.

Ngày 22-6: Vào cơ quan quân khu, đến ngay Phòng Công binh.

Như vậy là đã đến đích.

Nhật ký của Thiếu tướng Lê Trung Ngôn


Bình luận về bài viết Chưa có bình luận nào!

Họ tên
Email
Mã Bảo vệ
 
Nội dung
Quay lại trang trước

Mua sam thiet bi gia tri loa bose va dan karaoke vi tinh so cho tet Quy Ngo. Giup ca gia dinh benh nhau luon vui ve dip tet den xuan ve !

Giấy phép hoạt động số 144/GP-TTĐT Ngày 4-8-2011 của Cục quản lí Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử
Bộ Thông Tin - Truyền Thông
Bản quyền thuộc về Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ Việt Nam
Trụ sở : số 8 Nguyễn Tri Phương, Ba Đình Hà Nội Điện thoại : (04)37349563 - (069) 696573
Fax: (04)37349562 Email: bbtweb@gmail.com
Người phụ trách: Lê Quý Hoàng