Cao Văn Không Dám

07/01/2020 10:08:00 AM

HỒ BÁ THƯỢC



Anh tên là Cao Văn Giám, nhưng tờ quyết định điều động về Ban tham mưu Trung đoàn Công binh cô văn thư lại ghi là Cao Văn Dám. Biết là sai, nhưng anh im lặng. Giám với Dám, tên nào cũng được, tính anh cả nể, hiền lành và rất khiêm nhường mà.

Công tác ở đơn vị một thời gian, mọi người thấy mỗi khi được biểu dương vì hoàn thành nhiệm vụ, anh đều đáp ngay “Không dám, không dám”. Thế nên trong một lần nghỉ giải lao giữa buổi làm việc, tham mưu phó trung đoàn vui vẻ đặt thêm chữ “Không” vào họ tên anh, từ đó mọi người quen gọi anh là Cao Văn Không Dám.

Năm 1967 Mĩ mở rộng chiến tranh không quân ác liệt ra miền Bắc. Vùng đất cán xoong khu Bốn từ Thanh Hóa trở vào bị bom đạn địch cày lên xới xuống. Các tuyến đường bộ, đường sắt bị băm nát. Vũ khí, đạn dược, lương thực, thuốc men tiếp tế cho chiến trường hay bị chậm trễ hoặc mắc kẹt. Trong cái khó ló cái khôn, cấp trên lệnh cho trung đoàn công binh khảo sát, khơi thông luồng lạch tuyến kênh nội địa mà thời Lê đã dùng để vận chuyển chiến cụ, quân lương mở cõi phương Nam. Tiểu đoàn vận tải thuyền nan được thành lập, có nhiệm vụ chuyển hàng trên tuyến kênh từ Thanh Hóa vào Nghệ An.

Một lần máy bay địch đánh cây cầu bắc qua đoạn kênh huyện Nga Sơn. Mặt cầu bay hết, mố xiêu vẹo, chắn mất lòng kênh, tắc luồng. Tham mưu phó gọi Giám lên giao nhiệm vụ:

- Đồng chí xuống kho công binh nhận thuốc nổ, vào huyện đội Nga Sơn xin tăng cường bộ đội địa phương, khắc phục hậu quả, thông luồng cho tiểu đoàn vận tải thuyền nan nhanh nhất!

Giám nhận lệnh xong, định quay đi nhưng Tham mưu phó dặn thêm:

- Xong việc cho cậu nghỉ tranh thủ ba ngày về thăm vợ con.

Cách xưng hô của Tham mưu phó với đồng đội là thế, tùy tâm trạng, công việc. Khi giao nhiệm vụ, phê bình ai đó mà bực mình thì cao giọng, trang trọng dùng từ “tôi”, “đồng chí”. Lúc vui vẻ thì “cậu cậu, tớ tớ”. Cấp dưới nghe cách xưng hô ấy của Tham mưu phó liệu mà hành xử.

Một tuần lễ sau, Cao Văn Giám về cơ quan, mặt hốc hác, đen ngòm, quần áo nhàu nát, giơ tay chào:

- Báo cáo thủ trưởng, em hoàn thành nhiệm vụ!

Tư thế báo cáo đúng theo điều lệnh, nhưng xưng hô thì sai. Mọi người bịt mồm, suýt phì cười. Tham mưu phó chỉnh:

- Tại sao xưng em? Đồng chí phải sửa đổi cách xưng hô!

- Dạ... em không dám!

Người hỏi, người thưa quanh đi quẩn lại cũng chỉ mấy từ “không dám”. Cuối cùng Tham mưu phó bỏ qua, yêu cầu Giám báo cáo tình hình cụ thể. Không ngờ cái lối xưng hô mang tính gia đình của Giám lại rất hấp dẫn khi anh tường thuật về chuyến công tác, mọi người vây quanh, há hốc mồm nghe.

- Thuyền nan của tiểu đoàn vận tải trên kênh chở được ngót nghét một tấn hàng. Nhiều thuyền, nhiều chuyến nên lượng hàng chuyển vào phía trong không phải là ít, được cấp trên đánh giá rất cao. Đây là hình thức vận tải lấy cảm hứng của người buôn bán ngược xuôi bằng thuyền nan nhỏ trên dòng sông Mã, có điều vận dụng thực tế, thay vận chuyển cung ngắn chuyển thành cung dài. Vỏ thuyền bằng tre, gia công thêm khung thép khá chắc chắn. Việc đóng thuyền không cần nhà máy, công xưởng, chỉ cần huy động mấy bác phó mộc uốn khung, pha tre, đan thuyền, quét nhựa đường chống thấm, lợp mui lá cọ thế là xong. Thuyền ra lò nhanh. Lúc em vào được đến địa điểm tắc cầu, hai bên bờ có hàng trăm thuyền chờ vượt qua. Em sợ quá, thấy mật độ thuyền dày đặc thế này rất nguy hiểm, đành phải cho sơ tán cách xa hàng cây số, phòng khi máy bay địch trở lại đánh phá, tránh thương vong, mất hàng, lộ tuyến. Ban ngày huyện đội cho một tiểu đội công binh nữ hỗ trợ đánh mìn, dọn dẹp bê tông, sắt thép. Tối họ rút quân về đi làm việc khác. Em ở lại bám trụ đến khi xong việc. Cũng may em được ăn ngủ nhờ trên một thuyền nan do hai cô gái làm chân sào. Một cô khá xinh, má cứ hây hây đỏ, nhanh nhảu. Một cô ít nói, người hơi gầy. Việc ăn ở của em rất thuận lợi cho công việc. Còn chuyện này nữa, phân vân mãi muốn kể cho các anh nghe, nhưng đừng cười thì em mới kể.

- Tôi cho cậu dám đấy, cứ kể đi - Tham mưu phó sốt sắng, còn mọi người thì tò mò, chờ đợi.

- Đêm đầu tiên, đang ngủ mơ màng trong khoang thuyền, bỗng nhiên em thấy nghẹt thở, tưởng bao gạo hàng tụt xuống đè lên người. Nhưng một chút, thấy hơi thở nóng hổi phả vào mặt, cặp vú rắn chắc áp vào ngực đến tức thở, dưới chân tưởng hai cây chuối hột khóa chặt, lúc ấy em mới nhận ra cô gái trẻ đang nằm đè lên, là cô má đỏ hây hây. Người cô rạo rực, ngùn ngụt như bốc lửa. Em vặn vẹo muốn thoát ra, nhưng khoang thuyền rất hẹp, nếu cựa mạnh quá thuyền sẽ chòng chành, có thể bị lật úp như chơi. Em đành nằm im, không chống cự nữa. Cô gái tưởng em đã chịu trận liền lên tiếng: “Em đây mà, anh”. “Em... không dám”. “Sao anh lại xưng em với em?”. “Em không dám”. “Nhưng em dám!” - Cô gái cứng cỏi đáp lại. “Cho ngồi lên thở đã” - Em đánh lừa cô gái. Từ bé đến giờ, đây là lần đầu gặp chuyện này nên em thấy sốc và rất sợ. Nếu chuyện vỡ lở, cấp trên biết, em chắc chết. Còn ôm nhau vật vã nhỡ bị lật thuyền, ngót tấn hàng chìm xuống nước, ra tòa án binh là cái chắc. Khi bình tĩnh trở lại, cả hai thoáng chút ngượng ngập. Một tay em nắm bàn tay rắn chắc của cô gái, tay kia vuốt nhè nhẹ như để cảm ơn. Cô gái hạ hỏa, im lặng hồi lâu, rồi dốc bầu tâm sự bằng một giọng ngập ngừng xứ Thanh: “Tiểu đoàn thanh niên xung phong chúng em phần lớn xuất thân từ gia đình làm nghề chài lưới trên sông nên khi làm nhiệm vụ vận tải thủy chúng em rất thích. Hàng hóa chúng em vận chuyển thường sang mạn từ xà lan của bộ đội sang thuyền nan ở Mom Rô nơi tàu lớn không vào kênh được. Chúng em đi suốt ngày lẫn đêm, mệt là nghỉ. Nếu hôm nào đón được nước thủy triều là nhàn nhã, không thì chèo chống vào đến tận nơi. Giao hàng rồi về nhận đợt khác là hoàn thành một chuyến. Mấy năm trời các chuyến đi đều an toàn cả, địch khó phát hiện vì thuyền chúng em lẫn lộn vào thuyền chài lưới của dân. Nhưng cũng có mấy thuyền bị dính do bọn phi công Mĩ đánh đâu đó còn thừa bom đạn trên đường bay về, đạp xuống cho nhẹ. Ăn uống với chúng em thật đơn giản. Đơn vị phát khẩu phần gạo, thịt hộp, ca la thầu… cho từng chuyến. Vốn dĩ là dân chài sông nước nên chỉ cần một nắm lưới trong tay là bọn em thừa cái ăn. Rau cỏ ăn hàng ngày hái dọc hai bờ kênh. Đang tuổi ăn, tuổi lớn, chẳng bao lâu chúng em đứa nào đứa ấy từ những cô gái gày gò ngày nào nay căng da, thắm thịt, tràn trề sức trẻ. Dù cấp trên thường xuyên giáo dục nhắc nhở ý thức trách nhiệm chính trị, ý thức kỉ luật của thanh niên xung phong nhưng lời giáo huấn cấp trên thì rộng mà con thuyền chúng em lại chật hẹp. Con người đâu là gỗ đá phải không anh?”. Cô chợt cúi xuống, xuội một tiếng thở dài rồi bất chợt ngẩng lên giọng quyết liệt: “Anh thấy đấy, bạn đi cùng một thuyền với em, thấy anh đến là có ý nhường anh cho em. Cô ấy sang ngủ thuyền khác rồi”. Nói xong, cô ấy vít đầu em vào bộ ngực căng tròn như người mẹ ôm con cho bú. Em phải luôn mồm, cầu xin: “Không dám, không dám đâu ạ!”. Khi đã thoát khỏi vòng tay cô gái, ngồi nghiêm chỉnh, em hỏi cô: “Thế xảy ra chuyện, nhỡ ra cô có bầu thì sao?”. “Em sẽ ra quân, về nhà nuôi con như nhiều bạn khác”. Cô nhoẻn cười, giọng nhẹ như không: “Mà anh cũng biết đấy, thanh niên trai tráng đi bộ đội hết rồi, phụ nữ chúng em đã qua tuổi dậy thì, tình cảm khao khát lắm. Xóm làng chỉ còn lại ông già bà cả cùng lũ cháu lít nhít, làm sao có được tấm chồng? Bây giờ chúng em được như thế này là hạnh phúc lắm rồi. Nếu có con, một mình đơn thân cũng nuôi được chúng khôn lớn...”. Cô gái nói xong, dịch gần lại nhìn em. Em thấy trong đáy mắt cô gái ngân ngấn long lanh, không biết là nước mắt hay ánh sao trời chiếu vào. Em bối rối quá, người như lên cơn sốt. Em cũng muốn liều một lần xem sướng khổ ra sao. Nhưng rồi em trấn tĩnh được ngay, chẳng biết vì sợ sự bạo dạn của cô ấy, sợ vợ ở nhà hay sợ cái gì đó mà em vùng ra được.

- Tại sao người cho dám, cậu lại không dám?

- Dạ em không dám, không dám đâu ạ!

Mọi người cười ồ:

- Đúng là Cao Văn Không Dám!

Cao Văn Giám được cho về tranh thủ, thấy thái độ có vẻ lúng túng gì đó, Tham mưu phó mới hỏi, Giám gãi đầu, thú thực:

- Lần về tranh thủ dịp tết, từ ga Hải Dương em đạp xe về nhà. Ba lô để sau xe sợ bị cắt trộm, em buộc kĩ lắm. Về đến nhà, vợ con mặt mày rạng rỡ xúm xít. Nào ngờ, mở ba lô, thấy can nhựa gia công bẹp dúm dó, ba lít dầu hỏa CT1 thắp sáng được đơn vị bán cho tràn ra ngoài thấm ướt cân giò lụa, chè, thuốc lá, kẹo và hộp mứt tết. Mùi dầu xông lên nồng nặc. Mặt em tái mét, vợ em mặt hầm hầm không nói, bỏ đi vào bếp, đứa con trai bịt mũi. Thế là chẳng còn tết nhất gì nữa. Ngày mồng hai tết em phắn về cơ quan. Giờ về, không biết thái độ vợ thế nào...

Sáng hôm sau, Tham mưu phó ghi cho công vụ mấy chữ, xuống quản lí đơn vị mua trước tiêu chuẩn của tháng sau được một thùng lương khô 701, một hộp sữa bột Liên Xô và một cân đường làm quà cho Giám sau chuyến đi Nga Sơn về. Tham mưu phó hỏi cần dùng dầu CT1 nữa không, Giám cười:

- Các cháu ở nhà nhắn lên không phải mang dầu về nữa. Hôm tết trong can nhựa bẹp vẫn còn chắt được nửa chai. Nhà em để dành tra bật lửa. Hôm nào mải làm, tối quá mới thắp lên để ăn cơm rồi tắt luôn đi ngủ. Các cháu tranh thủ ôn bài vở lúc trời có trăng hoặc vào sáng sớm để tiết kiệm dầu đèn. Bây giờ nếu được phân phối dầu, em nhường cho thủ trưởng và các anh trong ban, còn em không dám…

Ba ngày sau, Cao Văn Giám lên đơn vị rất đúng hẹn, mang lên một túi vải thiều Thanh Hà để làm quà. Nhìn thấy khuôn mặt rạng rỡ của Giám, Tham mưu phó hỏi:

- Thế nào, vợ hết giận chưa, mặt còn hầm hầm nữa không?

- Bây giờ mặt vợ em lúc đỏ lúc tái ạ.

Mọi người vừa ăn vải, vừa nghe Giám kể:

- Tàu đến ga Hải Dương, em đạp xe như điên về nhà. Thấy nhà vắng tanh vắng ngắt, hỏi hàng xóm, họ nói con đi học, vợ đi gặt. Em vứt xe vào sân rồi chạy bổ ra đồng. Xung quanh người ta gặt ào ào đông vui, còn thửa ruộng nhà em chỉ có một mình vợ thui thủi, nghĩ mà tội. Thấy một đống lúa mới gặt xong, em hối vợ chuyển về nhà. Vợ em kêu lên: “Chưa đầy xe mà anh”. “Chưa đầy cũng về”. Mồm nói, tay làm, em bốc lúa lên xe cải tiến, được hơn nửa xe, rồi bắt vợ cầm càng, em đẩy sau, chạy băng băng trên những con chạch gập ghềnh. Lên dốc đê, dù là xe nhẹ, vợ em gồng người lên cầm càng. Nhìn ngược lên dốc, thấy hai đường gân quần lót lằn trên mông của vợ, lòng em như lửa đốt. Xe lúa vừa lao qua cổng, em đạp phía sau một phát, hai cánh cửa sập lại, rung bần bật. Em vội nắm tay vợ lôi vào buồng. Vợ em không giằng ra, nhưng lại kêu: “Anh ơi, còn chân…” Em nhìn xuống thấy vợ em chân bê bết bùn, quần xắn móng lợn. “Không chân cẳng gì hết, sợ bùn lấm giường thì ghếch lên”. Sau cuộc ấy, vợ chồng lại đẩy xe ra đồng. Cô ấy mặt đỏ hây hây, vừa đi vừa cười khúc khích rồi đọc câu đồng dao trêu em:

- Thứ nhất là lính xa nhà

Thứ nhì là lính cầu phà, ca nô

Thứ ba là lính ô tô

Thứ tư là lính không ô, không dù…

Khi Giám kể đến đây, Tham mưu phó đứng dậy, ứng khẩu:

- Của nhà hô “dám” rõ to

Của giời “không dám”, dành cho người ngoài.

Mọi người cười theo vui vẻ:

Bây giờ mới đúng là Cao Văn Dám

(Theo Tạp chí VNQĐ)

Nội dung bình luận
Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục gửi về bbtweb@gmail.com