Hồ sơ Số 01/2026: CDEC F034602980541 là một sổ tay nhật ký công tác của Liệt sĩ (hoặc CCB) Huỳnh Minh Lương – một Chính trị viên Quân Giải phóng Miền Nam (QGPMN), thuộc Trung đoàn 3, Q.763, Sư đoàn 9, bị thu giữ ngày 8/12/1967 tại huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Long (nay là tỉnh Bình Phước). Tài liệu gồm 72 trang, với những ghi chép từ khoảng 8/1966 đến 20/11/1967, có liên quan đến Liệt sĩ (hoặc CCB) Huỳnh Minh Lương, có cha từng làm Quân báo tỉnh Tây Ninh, có anh trai tên là Huỳnh Ngọc Ba và bạn bè, đồng đội liên quan: Trần Đoàn Kết, Nguyễn Tri Thừa, Hiệp, Huỳnh Thanh Phong, Chiến…
Tài liệu được thu giữ ngày 8/12/1967 tại tỉnh Bình Long (sau là tỉnh Bình Phước, hiện là một phần của tỉnh Đồng Nai). Đây là thời điểm các lực lượng QGPMN và QĐNDVN, đang chuẩn bị cho sự kiện Tết Mậu thân 1968. Cũng thời gian này, Bộ Tư lệnh Miền (BTLM) mở Chiến dịch Lộc Ninh- Đường 13 (hay còn gọi là Lộc Ninh – Bù Đốp) nhằm “lôi kéo, ghìm bộ phận quan trọng quân Mỹ ở vùng ngoài, tạo điều kiện chuẩn bị Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968.” Về phía Hoa Kỳ, Sư đoàn Bộ binh 1 tổ chức Chiến dịch Shenandoah II (29/9 đến 10/12/1967) nhằm tu sửa Đường số 13. Tuy chiến dịch Lộc Ninh- Đường 13 chỉ kéo dài từ 27/10 đến 29/11/1967, theo các tài liệu từ phía QĐND, các giao tranh và sự chuẩn bị cho tổng tấn công Tết Mậu Thân vẫn kéo dài cho đến tháng 12/1967 và tháng 1/1968.
Về địa điểm thu giữ: Tại tọa độ lưới lưới UTM 48P XU 992 258 (HQC Indian 1960) và khi được quy đổi xấp xỉ sang HQC tọa độ thập phân WGS84 (khoảng 11.98721, 106.82952 cho thấy nơi thu giữ nằm trong khu vực giáp với tuyến Quốc lộ 13 (cũ), nơi diễn ra giao tranh ác liệt từ tháng 10 đến tháng 12/1967. Đây là không gian nơi hai Sư đoàn chủ lực của QGP (Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9) hoạt động, trong đó Trung đoàn 3 (Q.763, Sư đoàn 9), đang triển khai lực lượng, phù hợp với nhận định về mật hiệu ban đầu của phía tình báo Hoa Kỳ cho đơn vị “C11” được ghi trong hồ sơ.
Huỳnh Minh Lương là Trợ lý Chính trị của “C11” Phiếu Đánh giá của tình báo Hoa Kỳ-VNCH cho rằng ông là một cán bộ thuộc Đại đội 1, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn Q.763, Sư đoàn 9. Ông sinh ra ở làng An Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre (cũ). Những trang cuối của tài liệu ghi lại tiểu sử cá nhân, lịch sử công tác của Huỳnh Minh Lương. Cụ thể như sau: Nhập ngũ: 8/1/1961 (Trinh sát); Vào Đoàn: 6/5/1961; Vào Đảng: 23/3/1962; Chức vụ: Tiểu đội trưởng: 9/1961; Trung đội phó: 14/4/1964; Trung đội trưởng: 1/11/1964; Chính trị viên Đại đội: 20/12/1965.
Từ thông tin một nguồn tư liệu khác do nhà nghiên cứu Lâm Hồng Tiên cung cấp cho biết: Trong danh sách 35 liệt sỹ thuộc Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 273/ tức Trung đoàn 763 Sư đoàn 9 Quân Giải phóng miền Nam, hy sinh trong các ngày 17 và 28/11/1967, 3 và 7/12/1967 tại khu vực Bù Đốp tỉnh Bình Phước, một nhân vật có họ tên và quê quán trùng khớp: 12- LS Huỳnh Minh Lương (tức Lợi). Hy sinh: 7/12/1967. Quê quán: Phước Thanh, Châu Thành, Bến Tre (cũ). Đơn vị: B11 – d9 E273 F9. Trường hợp hy sinh: Tập kích Mỹ đêm 7/12/1967, 2 km từ chi khu Bù Đốp. Nơi an táng ban đầu: Mất tích không rõ ràng.
Vì là một ghi chép về công tác Đảng công tác chính trị, tài liệu này có các thông tin về việc cất nhắc các chức vụ chỉ huy trong đơn vị, danh sách đi dự Đại hội ở cấp cao hơn, cũng như danh sách về cấp ủy của chi bộ Đảng của đơn vị, mà bí thư chính là Huỳnh Minh Lương. Các nhân vật khác trong cấp ủy của đơn vị này bao gồm:
1.Huỳnh Minh Lương (Bí thư)
2.Võ Văn Lợi FBT (Phó Bí thư) Kế hoạch TC (tổ chức?)
3.[Không rõ chữ]
4.Võ Văn [không rõ tên] – Bảo vệ
5.Nguyễn Hữu Lầu – Hậu cần
Dự kiến bổ sung 1.”
Ngoài ra còn có một danh sách tên các quân nhân “đi dự đại hội” được dán ở đầu sổ, cũng như các danh sách về bổ nhiệm các chức danh chỉ huy các đơn vị cấp Trung đội, Tiểu đội…
Hồ sơ CDEC F034602980541 có tiềm năng rất cao để tiếp tục mở rộng nghiên cứu lịch sử và điều tra truyền khẩu trong khuôn khổ của dự án VWAI, nhờ mức độ chi tiết về các hoạt động quân sự, tác chiến, công tác Đảng, công tác chính trị, cơ cấu đơn vị và thời, không gian tác chiến mà tài liệu cung cấp. Vì đây là một tài liệu nhiều khả năng là mang tính chất sổ công tác của cá nhân một Chính trị viên của một đơn vị QGPMN, ghi nhận các thông tin về chính trị của đơn vị này, tài liệu này có thể được đem ra đối chiếu lưu trữ đa hệ và truy vết thân nhân.
Tọa độ gần với Hồ sơ CDEC F034602980541 được ghi ở dạng lưới UTM 48XU992258 (Indian 1960 Datum) và được quy đổi xấp xỉ sang tọa độ thập phân WGS84 (khoảng 11° 59′ 13.95″ N 106° 49′ 46.26″ E).
Tuy Hồ sơ này không thể tự thân cung cấp kết luận cuối cùng về địa điểm chôn cất, bởi thông tin về tọa độ thu giữ cũng nhưng các thông tin về tên người và quê quán, tài liệu này dẫn đến rất nhiều chỉ dấu khác nhau, giúp quá trình kết hợp đa nguồn đối chiếu lưu trữ Việt Nam, Hoa Kỳ, phỏng vấn truyền khẩu, và phân tích địa lý có phương hướng rõ ràng hơn. Với việc có cơ sở ban đầu cho việc liên kết giữa hồ sơ của Huỳnh Minh Lương ở 2 hồ sơ CDEC khác nhau, có thể mở ra cơ hội cho việc 24 quân nhân được ghi nhận là hy sinh vào ngày 7/12/1967.
Về giá trị di sản và ký ức, CDEC F034602980541 là một tư liệu nhân đạo cốt lõi vô giá với gia đình ông Huỳnh Minh Lương cũng như một số những cá nhân khác được nhắc tên. Trong trường hợp quân nhân Huỳnh Minh Lương và các đồng đội có tên đã hy sinh, mà vẫn còn thất lạc và chưa hoặc không thể quy tập được hài cốt, đây có thể là di vật cuối cùng còn lại, ghi nhận lại một cách chi tiết hoạt động công tác của quân nhân này ngay trước thời điểm hy sinh. Việc bảo tồn, phân tích, cũng như hoàn trả lại hồ sơ chứng tích này, không chỉ phục vụ công tác MIA/KIA, mà còn góp phần tưởng niệm cá nhân, kết nối gia đình – cộng đồng và thúc đẩy hòa giải nhân đạo, thông qua việc xác nhận đầy đủ lịch sử và sự hy sinh của các Liệt sĩ.
Tg: Đại tá, Nhà văn Đặng Vương Hưng



