Tháng 8/2026, nhà thơ Nguyễn Đăng Độ ra mắt tập thơ “Chảy về miền ký ức”, do Nhà xuất bản Văn học ấn hành. Tập thơ gồm 60 bài với ý nghĩa đặc biệt khi gắn với năm sinh 1966 và tuổi 60 của tác giả trong năm 2026. Đọc tập thơ, Đại tá, nhà thơ Trần Anh Thái, Chủ tịch Hội đồng Thơ, Hội Nhà văn Việt Nam, nhận định đây là hành trình trở về với những dữ liệu, sự kiện, cảm xúc và trải nghiệm đã được lưu giữ trong ký ức; từ đó, những câu chuyện riêng của đời người mở ra những tầng nghĩa rộng hơn về tình mẫu tử, tình phụ tử, quê hương, chiến tranh, tình bạn, tình yêu và thân phận con người.
Có miền đất khiến con người đau đáu về những chuyến đi, và cũng có nơi chốn lại được lựa chọn bằng cuộc trở về trong ký ức. Với nhà thơ Nguyễn Đăng Độ, hành trình ấy được gọi tên bằng động từ giàu sức gợi: “chảy”. Ký ức chảy qua năm tháng, qua bao mất mát, chia xa, đoàn tụ, qua những vùng quê, con người và cả những câu chuyện tưởng như đã lùi xa mà vẫn âm thầm hiện hữu trong đời sống tinh thần của mỗi người theo một cách nào đó.
Tháng 8 này, khi “Chảy về miền ký ức” đến với bạn đọc cũng như cách tác giả xác định điểm xuất phát của thơ mình. Nhận định về tác phẩm, Đại tá, nhà thơ Trần Anh Thái cho rằng ký ức là nơi lưu giữ, phục hồi và tái hiện những dữ liệu, sự kiện, cảm xúc cùng những trải nghiệm con người từng sống và đi qua. Trở về miền ký ức, theo ông, cũng là trở về nơi chứa đựng những kỷ niệm thiêng liêng được cất giữ trong ý thức và tiềm thức. Từ lựa chọn ấy, nhà thơ đồng thời gợi ra một quan niệm: thơ ca nói riêng và văn học nói chung chính là một hình thức lưu giữ ký ức của con người.
“Chảy về miền ký ức” gồm 60 bài thơ. Con số ấy ứng với năm sinh 1966 của Nguyễn Đăng Độ, cũng là năm ông bước vào tuổi 60. Một đời người ở độ tuổi ấy đã đủ dài để ký ức không còn là những mảnh rời rạc của tuổi trẻ mà trở thành dòng chảy lắng sâu. Ở đó, hiện hữu ký ức quê hương, gia đình, cha mẹ, anh em. ả Có những năm tháng chiến tranh, tình bạn, tình yêu và suy tư về được – mất, hợp – tan của kiếp người.
Ngay từ bài thơ mở đầu, “Dâng mẹ”, Nguyễn Đăng Độ đã lựa chọn điểm tựa gần gũi nhất nhưng cũng sâu xa nhất của ký ức đó là người mẹ. Hình ảnh mẹ trong thơ ông là người mẹ của đời sống, ở miền quê nghèo, gắn bó với những năm tháng cơ cực. Áo tơi, gió bấc, Gió Lào, vại cà, hũ nhút, đồng khô, sông cạn, chiếc liềm, bàn chân trần… những hình ảnh ấy tạo nên thế giới vừa cụ thể vừa giàu sức gợi. Trong bài “Dâng mẹ”, người mẹ hiện lên giữa “gió bấc”, “Gió Lào”, những mùa khô hạn và cơ cực, vẫn lặng lẽ gánh lấy nhọc nhằn để nuôi con.
Các nhà phê bình văn học thường chú ý đến cách Nguyễn Đăng Độ khắc họa sự hy sinh ấy. Theo đó, từ những chi tiết cụ thể đã tạo ra sức nén cảm xúc. Hình ảnh “thân gầy” chịu “nắng đốt mưa găm”, rồi “rút ruột đời tằm nhả tơ” gợi biểu tưởng người mẹ đã dành trọn sức lực và cuộc đời cho con. Cảm xúc được gửi vào hình ảnh, nhịp điệu mỗi câu thơ. Ở “Mẹ ơi”, ký ức ấy trở nên đau đớn hơn bởi mẹ đã không còn. Tiếng gọi “mẹ ơi” vang lên trong khoảng trống của hiện tại, nơi người con chỉ còn có thể tìm lại bóng dáng mẹ qua sương khói, di ảnh, kỷ niệm. Câu chuyện riêng từ đó trở thành trạng thái tinh thần phổ quát, đó là con người thường chỉ nhận ra độ lớn của sự hiện diện khi sự hiện diện ấy đã trở thành vắng bóng.
“Chảy về miền ký ức” không dừng ở tình mẫu tử. Nếu người mẹ là một trong những cội nguồn của ký ức, thì người cha lại hiện lên trong mạch thơ khác, gắn với sự mất mát, với chiến tranh, với một đời tần tảo và trách nhiệm gia đình. “Khóc cha”, “Cách biệt”, “Xin mẹ ngủ yên”, “Anh tôi”… tạo thành vùng thơ về chia lìa. Ở đó, sự ra đi của còn làm thay đổi cách người ở lại nhìn về thời gian.
Trong “Cách biệt”, hình ảnh căn nhà thiếu vắng tiếng cha, khu vườn và những vật quen thuộc trở thành những dấu hiệu của sự trống vắng. Người con đã trưởng thành, tóc đã hai màu song vẫn có nhu cầu được tựa vào lòng cha. Bởi lẽ đó, thơ ca còn nói về nhu cầu nguyên sơ của con người, dù đi qua bao nhiêu năm tháng, con người vẫn có phần nào đó muốn trở về nơi mình từng được chở che.
Từ gia đình, dòng ký ức tiếp tục chảy về tuổi thơ. “Tìm lại tiếng nôi đưa” là cuộc trở về với lời ru, với khóm tre, với bến nước và với “xứ Nghệ” trong tâm thức. Nhà thơ đi tìm “chiếc vé tuổi thơ” qua hình ảnh giàu tính biểu tượng cho mong muốn trở lại thời gian đã mất. Ký ức vì thế chứa đựng cả nghịch lý, đó là càng xa xôi, cách trở, càng khó quên. Thời gian có thể làm thay đổi cảnh vật, con người và chính người trở về, nhưng tiếng ru của mẹ, mái nhà cũ, bờ tre, bến nước vẫn có khả năng đánh thức ngăn ký ức tuổi thơ tưởng chừng đã ngủ sâu.
Đại tá, nhà thơ Trần Anh Thái gọi thơ Nguyễn Đăng Độ là thơ tâm tình. Theo ông, phần lớn các bài thơ trong tập hướng về cha mẹ, quê hương, bạn bè, anh em ruột thịt. Ở mảng thơ quê hương, tác giả thể hiện tình yêu, nỗi nhớ và niềm tự hào; ở mảng thơ về tình bạn, tình yêu là sự gắn bó, thủy chung, tri kỷ cùng những kỷ niệm đẹp. Viết về những tình cảm gần gũi, nhà thơ Nguyễn Đăng Độ thường tìm đến cảnh vật để bộc lộ tâm trạng. Thiên nhiên trở thành một phần của tâm trạng, còn cảnh vật được nhìn qua lăng kính của ký ức. Nhà thơ Trần Anh Thái nhận xét cách viết này qua câu thơ “Chiều cuối năm con bấc bời bời/ Cánh lá rụng đầy vườn lệ ứa”. Ở đây, cái “bời bời” của cảnh không chỉ là trạng thái của gió, của mùa, mà trở thành trạng thái tâm hồn. Đó là lối “tả cảnh ngụ tình”, khi cảnh vật chuyển động đồng thời với những chuyển động bên trong con người.
Thơ Nguyễn Đăng Độ luôn bắt nguồn từ hiện thực đời sống. Tác giả không coi thơ ca như cuộc chơi thuần túy của kỹ thuật ngôn ngữ mà xác định thơ phải có gốc rễ từ thực tế, buồn vui, đau khổ, hạnh phúc và khát vọng của con người. Nhà thơ chỉ có thể cảm nhận sâu sắc hơi thở đời sống khi trực tiếp hòa mình vào lao động, chiến đấu và sinh hoạt của nhân dân, trải qua những va xiết trường đời. Quan niệm ấy giúp lý giải vì sao những hình ảnh trong “Chảy về miền ký ức” thường rất đời và đó đều là những chất liệu tưởng bình thường nhưng khi đi qua ký ức và cảm xúc của người viết, trở thành chất liệu của thơ.
Một trong những vùng ký ức có sức nặng trong tập thơ là chiến tranh và những mất mát của một thế hệ. Khi viết về quê hương Hà Tĩnh, về những cô gái hy sinh tại Ngã ba Đồng Lộc, Nguyễn Đăng Độ tái hiện một địa danh lịch sử, đồng thời, những câu thơ về Sông Lam, Hồng Lĩnh, biển Thiên Cầm và các nữ Anh hùng liệt sĩ đã đã hy sinh gợi ra sự gắn bó giữa địa lý quê hương và lịch sử dân tộc. Hình ảnh những cô gái “chưa một lần yêu” trở thành biểu tượng cho tuổi trẻ trong chiến tranh. Ở đó có sự mất mát của một đời người và rộng hơn là sự hy sinh những khát vọng riêng tư trước vận mệnh đất nước.
Chiến tranh trong “Chảy về miền ký ức” được khắc họa trong sự tồn tại của những khoảng trống ở gia đình, trong những người đã không trở về, trong những nỗi đau kéo dài qua nhiều thế hệ. Khi viết về Truông Bồn, nhà thơ sử dụng những hình ảnh mạnh về đất, bom đạn, máu và những cung đường. Theo Trần Anh Thái, đó là những câu thơ mang sắc thái bi tráng, đồng thời cho thấy cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc cũng chứa đựng vô vàn đau đớn, chia cắt. Nếu chiến tranh đưa ký ức về với những mất mát lớn của cộng đồng, thì những bài thơ viết về các vùng đất lại mở ra không gian nhẹ nhõm, giàu chất trữ tình hơn. Nguyễn Đăng Độ viết về những nơi từng sống, từng đi qua và những phong cảnh thiên nhiên với cái nhìn gắn bó, tin yêu. Ở mảng thơ này, tác giả có cái nhìn tinh tế, kết hợp cảnh sắc với cảm xúc để tạo nên những bức tranh thơ hữu tình. Trong “Pháo hoa Sông Hàn”, hai câu thơ về biển xanh và nụ cười, nhà thơ sử dụng từ ngữ mang tính nhân hóa để biến cảnh biển thành không gian giàu sức mời gọi. Biển trở thành một chủ thể có khả năng giao cảm với con người, mở ra cảm giác rộng lớn, đắm say, thôi thúc khám phá.
Từ quê hương, nhà thơ còn đi tới những vùng đất khác trong ký ức của mình. Đà Nẵng, Sông Gâm, Hà Tĩnh, Truông Bồn, Sài Gòn… hiện ra như những tọa độ của đời sống đã qua nhiều không gian. Mỗi vùng đất mang theo sắc thái cảm xúc riêng. Yếu tố này khiến “Chảy về miền ký ức” mang lại cảm giác tác giả đang liên tục đối thoại với hiện tại. Người viết trở về quá khứ để nhìn lại mình, nhìn lại những người thân yêu và nhìn lại những biến động của cuộc đời. Chính từ đó xuất hiện bao câu hỏi về được – mất, hợp – tan, sinh – tử.
Tập thơ cũng có nhiều bài ấn tượng hướng vào thân phận, giọng thơ chuyển từ hồi tưởng sang chiêm nghiệm. Hình ảnh cánh buồm đứt gió, vầng trăng khuyết, hoa sứ rụng, cung đàn lạc nhịp… đều mang trong mình ý thức về sự hữu hạn. Như vậy đồng nghĩa với câu chuyện ký ức đã trở thành cách để con người hiểu hiện tại. Những mất mát đã trải qua làm người ta biết trân trọng hơn những gì đang có. Những cuộc chia ly làm người ta nhận ra giá trị của gặp gỡ. Những năm tháng gian khó khiến những bình yên của hiện tại trở nên đáng quý.
Nét đáng chú ý trong tập thơ là mối quan hệ giữa tình riêng và tình chung. Nguyễn Đăng Độ bắt đầu từ mẹ, cha, anh em, bạn bè, từ những người cụ thể trong đời mình, trong khi đó, vẫn có những câu chuyện riêng đủ khả năng gợi tới những trải nghiệm chung của con người. Đây có lẽ cũng là lý do những bài thơ hay của Nguyễn Đăng Độ thường được chắt lọc từ đau thương, mất mát, vấp ngã và cả những niềm hạnh phúc.
Ở tuổi 60, việc Nguyễn Đăng Độ chọn “ký ức” làm dòng chảy chủ đạo cũng có thể được xem như dấu mốc trong hành trình sáng tác. Khi con người đi qua một chặng đường đủ dài, những điều từng tưởng nhỏ bé lại trở thành những giá trị quan trọng nhất. Bởi vậy, “Chảy về miền ký ức” không phải một dòng hồi tưởng chỉ hướng về kỷ niệm. Dòng chảy của ký ức vẫn hướng con người về phía trước. Đó cũng là điểm gặp gỡ giữa ký ức và hiện tại trong tác phẩm. Những gì đã trải qua được bồi đắp thành lớp trầm tích, trở thành kinh nghiệm để người đang sống hôm nay nhìn về phía trước.
Đọc “Chảy về miền ký ức”, người đọc gặp những lớp người và những miền đời đã làm nên con người thi sĩ. Đó là người mẹ tảo tần, người cha đi qua chiến tranh và nghèo khó, những người thân đã khuất, những người bạn, những vùng đất từng gắn bó, những người đã hy sinh và cả những câu hỏi chưa bao giờ có câu trả lời trọn vẹn về được – mất, hợp – tan. Với Nguyễn Đăng Độ, những gì đã sống, đã yêu, đã mất, đã đau và đã nhớ được gửi vào thơ. Từ đó, ký ức riêng trở thành phần của ký ức chung. “Chảy về miền ký ức” cũng là lời mời người đọc trở về miền ký ức chính mình, nơi có những người thân yêu, những vùng đất không thể quên và những giá trị tưởng bình thường nhưng làm nên chiều sâu của đời sống.
Box:
Nhà thơ Nguyễn Đăng Độ là cựu chiến binh, có quá trình sáng tác bền bỉ gắn với những trải nghiệm về quê hương, người lính, tình thân và những suy tư về đời sống. Qua các tập thơ đã xuất bản, như: “Tình quê”, “Hương xa”, “Những vần thơ yêu thương”, nhà thơ đã từng bước định hình phong cách thơ giàu chất hiện thực và trữ tình với nội tâm sâu sắc, tinh tế. Mạch thơ của ông thường hướng về gia đình, những người thân yêu, quê hương và đất nước và được chú ý ở mảng đề tài người lính, ký ức chiến tranh. Tác giả từng nhận nhiều giải thưởng cho các ca khúc về đề tài quê hương, đất nước, con người và các lực lượng bảo vệ Tổ quốc.
Bài và ảnh: Lữ Mai
